Quy trình kiềm lò hơi

Phạm Chí 22/10/2020
quy-trinh-kiem-lo-hoi

1 - RỬA ĐƯỜNG ỐNG

Trước khi cấp nước vào lò hơi cần phải làm sạch các vết bẩn và tạp vật trong đường ống lò hơi.

1.1 - Đường ống cấp nước chính cho lò hơi: Tháo hở mặt bích nối ống cấp nước chính với bộ hâm nước, dùng nước thổi rửa ống nước chính khoảng 20 phút, cho tới khi chất lượng nước tại chỗ ra đạt tiêu chuẩn thì mới được cấp nước vào lò.

1.2 -  Rưa ngược bộ quá nhiệt: Tháo đầu vào ống rửa ngược với đường nước cấp, nối tạm thời với đường ống xả ra cống. Sau khi thử áp xong thì mở van xả áp rửa bộ quá nhiệt và thổi ngược đường ống.

1.3 - Bộ giảm ôn - giảm áp: Tại bộ giảm ôn kiểu hỗn hợp phun nước trực tiếp ta mở van cấp nước giảm ôn để rửa ngược, sau khi rửa xong đóng lại khôi phục hệ thống như cũ.

2 - BIỆN PHÁP KIỀM LÒ.

2.1- Mục đích kiềm lò

 – Lò hơi có áp suất cao. Do trong quá trình chế tạo, vận chuyển, bảo quản, lắp đặt mà trong đường ống của lò có tồn tại các loại cát, xỉ hàn, rỉ sắt và vết dầu bẩn. Để ngăn ngừa ảnh hưởng của nó đến chất lượng hơi sau khi đưa vào vận hành và cũng là để đảm bảo tính an toàn cao, tính kinh tế của lò hơi nên lần vận hành lò đầu tiên nhất thiết phải sấy rửa lò và thông thổi đường ống. Mục đích để loại trừ các chất bẩn trong lò. Đồng thời ở giai đoạn này còn kết hợp thử kín và tiến hành hiệu chỉnh, kiểm nghiệm van an toàn.

– Theo quy phạm hướng dẫn rửa hoá học các lò hơi nhiệt điện thì với lò hơi có áp suất bao hơi từ 9,8MPa trở xuống khi lượng cáu bẩn nhỏ hơn 150g/m2 thì có thể không tiến hành rửa axit nhưng nhất thiết phải tiến hành rửa kiềm.

2.2  Công tác chuẩn bị trước khi kiềm lò.

– Đã kết thúc công việc thử máy sấy lò ở trạng thái nguội, và đã nghiệm thu đạt tiêu chuẩn.

– Lò hơi đã qua thử áp lực, hệ thống nước, hơi nước và van phải kín không được xì hở, có thể đưa nước vào lò bình thường.

– Hệ thống cho thuốc lò hơi lắp đặt hoàn thiện đồng thời đường ống cần thông suốt, có đầy đủ các điều kiện để đưa thuốc vào lò. Nếu không có các điều kiện trên thì đưa thuốc vào từ trên đỉnh balông hoặc từ bình van ép ngược.

– Chuẩn bị thuốc để kiềm lò: NaOH (0,3% ÷0,6%) 100kg, Na3PO4 (0,5%÷1,0%) 150kg (tính toán với dung tích nước lò là 30m3).

– Xác định rõ việc của từng nhân viên thao tác. Phân công trách nhiệm rõ ràng. Yêu cầu nhân viên phải thông thạo thao tác vận hành lò. Chú ý các điều khoản về an toàn.

– Chuẩn bị đầy đủ thiết bị và những dụng cụ cho thuốc, các đồ bảo hộ như kính mắt, găng tay cao su, yếm che, các vật phẩm phòng hộ sơ, cấp cứu, để đề phòng hoá chất gây ra các tổn thương cho người.

– Cần tính toán lượng thuốc cho vào lò, rồi sau đó đưa vào thiết bị hoà tan thành dung dịch thuốc, sau đó thông qua thiết bị cho thuốc để cấp thuốc vào lò (không đem thuốc ở dạng rắn cấp trực tiếp vào lò). Cần đem thuốc cấp trực tiếp vào bao hơi.

– Nếu không có thiết bị cấp thuốc vào lò thí có thể xem xét việc dùng nhân công cho thuốc vào 1 bình chứa đặt phía trên balông, sau khi gia nhiệt hoà tan thuốc thành dung dịch thì mở van dự phòng trên ba lông nối thông bình chứa dịch thuốc với ba lông để đưa thuốc vào. Nhưng nhất định phải có biện pháp phòng hộ đẻ đảm bảo an toàn.

2.3 – Các bước kiềm lò

– Lần đầu đưa nước vào lò, nước phải có nhiệt độ là nhiệt độ môi trường hoặc là nước đã gia nhiệt nhưng phải có nhiệt độ nhỏ hơn 90oC, và khống chế nhiệt độ đưa vào đến thành balông có độ chênh với thành balông không quá 50oC. Nhiệt độ chênh lệch giữa trên và dưới vách bao hơi không vượt quá 40oC. Thời gian đưa nước lên không được ít hơn 2 giờ. Mùa đông không dưới 4 giờ.

– Dùng nhân công cấp thuốc vào thiết bị cho thuốc để hoà tan thuốc, sau đó bơm nước ngưng bơm thuốc vào lò.

– Căn cứ để tăng áp, tăng nhiệt độ lò hơi là:

 Khi áp suất  < 0,98 MPa:

                                        Tốc độ tăng áp bao hơi: 0,03 ÷ 0,05 MPa/min

                                        Tốc độ tăng nhiệt độ bao hơi 0,5 ÷ 1oC/min

Khi áp suất >0,98 MPa:

                                        Tốc độ tăng áp bao hơi: 0,05 ÷ 0,15 MPa/min

                                        Tốc độ tăng nhiệt độ bao hơi 1 ÷ 1,5oC/min

                                        Tốc độ tăng nhiệt độ hơi quá nhiệt 2 ÷ 3oC

 a - Khống chế tốc độ khởi động theo đường cong sấy lò, cần từ từ đều đặn. 

 b -  Đường cong tăng áp, tăng nhiệt độ theo bản vẽ.

 c - Đường cong tăng nhiệt độ của sàn lưu hoá (xem biện pháp khởi động toàn bộ bản vẽ 2)

–Tiến hànhồtàn bộ quá trình kiềm lò theo 3 giai đoạn.

a – Giai đoạn 1: Từ từ tăng áp đến 2.0 MPa giữ không đổi 8 giờ. Nếu mực nước bao hơi hạ thấp thì thêm nước vào lò. Trong thời gian kiềm lò cứ 4 tiếng thì tiến hành phân tích nồng độ kiềm và nồng độ phốt phát một lần.

b – Giai đoạn 2: Từ từ tăng áp đến 2.0MPa giữ không đổi 8 giờ. Nếu mực nước bao hơi hạ thấp thì thêm nước vào lò. Trong thời gian kiềm lò cứ 2 tiếng thì tiến hành phân tích nồng độ kiềm và nồng độ phốt phát một lần.

c – Giai đoạn 3: Từ từ tăng áp đến 2.0MPa giữ không đổi 8 giờ. Nếu mực nước bao hơi hạ thấp thì thêm nước vào lò. Trong thời gian kiềm lò cứ 1 tiếng thì tiến hành phân tích nồng độ kiềm và nồng độ phốt phát một lần.

– Trong thời kiềm lò cần tiến hành xả bẩn, mỗi lần xả trong vòng 30s, sau đó đóng ngay lại. Chú ý kiểm tra xem đường xả có bị tắc không.

 – Khi độ kiềm < 45 mg/l hoặc PO43- < 1000 mg/m3, dùng bơm thuốc để đưa thêm NaOH và Na3PO4 vào lò duy trì độ kiềm, khi kết thúc kiềm lò (PO43- trong nước lò thay đổi không lớn và có hướng ổn định). Sau khi dừng lò, đợi áp suất lò giảm tới nhỏ hơn 0,5 MPa thì bắt đầu thải nước, thải hết chất bẩn trong lò. Sau đó cho nước mới vào thay nước đến khi thải ra nước trong, phân tích độ pH tới dưới gần bằng 9.

– Tổng thời gian kiềm lò khoảng 36 tiếng và được tiến hành theo đường cong kiềm lò (xem bản vẽ).

– Sau khi kết thúc quá trình kiềm lò cần dùng một lượng nước lớn không ngừng thay nước cho đến khi nước lò đạt tiêu chuẩn. Sau đó tiến hành tháo nước hoặc thổi rửa đường ống nhưng khi mực nước lò đạt đến đến mức nhất định thì mở cửa người chui trên ba lông. Tiến hành kiểm tra phần trong, loại trừ các vật chất bẩn còn tích tụ trong balông như rỉ sắt, các chất bẩn bám vào thành vách bao hơi. Sau đó đóng cửa bao hơi lại và tiến hành kiểm tra các ống góp.

2.4 - Những điểm chú ý khi kiềm lò:

 – Trong quá trình kiềm lò phải đốt lò liên tục.

– Trong thời gian kiềm lò mức nước phải luôn duy trì ở mức cao nhưng không được đưa dịch hóa chất vào bộ quá nhiệt.

– Trong thời gian kiềm lò cần định kí lấy mẫu nước ở bao hơi hoặc ống nước xuống để phân tích. Khi độ kiềm của nước lò thấp hơn 45 mg/l thì phải bổ sung hóa chất vào lò.

– Khi áp lực cao tới 0,05 ÷ 0,1 MPa, cần phải tiến hành rửa thiết bị đo mức nước, sau này cần định kì thông rửa thiết bị này để tránh tắc ống nước nối thông với bao hơi dẫn đến sự cố báo mức nước sai gây sự cố cạn nước lò hơi. Khi áp suất lò đạt đến 0,1 ÷ ,015MPa cần thông rửa ống xiphông trước các áp kế. Kiểm tra độ tin cậy của áp kế, sau này định kì thông rửa và kiểm tra.

– Trong thời gian kiềm lò cần tháo rời tiếp điểm của thiết bị đo mức nước kiểu tiếp điểm điện. Rồi tiến hành rửa sau khi kết thúc kiềm lò.

– Trong thời gian kiềm lò cần tiến hành thải cặn bẩn một cách đối xứng các tường trước sau, phải, trái của lò hơi. Trong quá trình nâng áp cấn chú ý kiểm tra tình hình giãn nở, nếu phát hiện tình trạng khác thường, cần ngừng ngay tăng áp, đợi kiểm tra rõ ràng nguyên nhân và xử lý mới được tăng áp trở lại.

– Trong thời gian kiềm lò cần thường xuyên kiểm tra các thiết bị chịu áp lực, tình trạng kín hơi của đường ống dẫn hơi và kín gió của đường ống gió, khói. Phát hiện vấn đề và xử lý kịp thời.

– Cần thường xuyên chú ý đến các điểm đo nhiệt độ khói ở phần cuối đường khói. Nếu có bất thường cần dùng biện pháp thích hợp để xử lý kịp thời.

–Thời gian cuối kiềm lò, kiểm tra độ kiềm và nồng độ PO43- trong nước lò. Nếu có chiều hướng ổn định thì lập tức dừng lò

– Sau khi kết thúc kiềm lò, đợi nước lò nguội tới dưới 70oC, sau khi thải cặn thì có thể chuẩn bị ngay việc thông thổi đường ống lò hơi.

2.5 - Kiềm lò đạt tiêu chuẩn

– Chất bẩn của các loại dầu mỡ bám trên bề mặt kim loại và lớp dầu mỡ bảo vệ bề mặt đã bị tẩy sạch hoặc đã bị rơi xuống. Không còn các sản phẩm ăn mòn mới và lớp han rỉ nổi, và đã hình thành một cách hoàn thiện lớp màng bảo vệ kim loại, để đề phòng bề mặt kim loại tiếp tục bị ăn mòn.

– Cần tiến hành làm sạch những vật bẩn tích đọng và vết đốm rỉ còn bám lại trên thành các bề mặt trong bao hơi và trong các ống góp.

Nguồn: CÔNG TY TNHH ENTHALPY

Bình luận
Nội dung này chưa có bình luận, hãy gửi cho chúng tôi bình luận đầu tiên của bạn.
VIẾT BÌNH LUẬN